Xét nghiệm tế bào cổ tử cung chẩn đoán ung thư

Sinh thiết là phương tiện sau cùng và cho kết quả chính xác hơn cả. Đôi khi sinh thiết, ngoài để chẩn đoán còn là một phương pháp điều trị đối với giai đoạn sớm của bệnh, đó là trường hợp khoét chóp cổ tử cung sinh thiết.
Các xét nghiệm tầm soát ung thư

Phết mỏng cổ tử cung (Pap’ smear)
 
Phết tế bào cổ tử cung (hay phết tế bào âm đạo: Pap' smear, tức là xét nghiệm Pap) là một xét nghiệm tế bào học để tìm những tế bào bất thường trong lớp biểu mô cổ tử cung.

Pap có thể cho biết tình trạng hiện tại cổ tử cung : bình thường, viêm nhiễm, tái tạo, những tổn thương không ung thư và tổn thương ung thư.

Đây là một xét nghiệm đơn giản, thường được thực hiện ở các phòng khám phụ khoa, và là bước đầu tiên trong bộ ba xét nghiệm dùng để tầm soát đồng thời cũng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung.

Pap phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư giai đoạn sớm, giúp cho người bệnh có cơ hội điều trị lành bệnh hoàn toàn trước khi ung thư xâm lấn hoặc di căn sang các vùng khác.

• Quy trình làm Pap:

- 2 ngày trước khi xét nghiệm: không thụt rửa âm đạo, không đặt thuốc, bôi kem, dùng hóa chất khử mùi ở âm đạo.

- 1 ngày trước khi xét nghiệm : không giao hợp.

- Không làm Pap khi đang có kinh.

Tất cả những lý do trên sẽ làm tế bào âm đạo biến đổi. Đôi khi làm mất những tế bào bất thường khiến kết quả không chính xác. Thời gian tốt nhất vào khoảng ngày 10 – 20 của chu kỳ kinh.

Làm xét nghiệm Pap không đau nhưng trong quá trình tiến hành có thể gây xước nhẹ cổ tử cung và gây ra chút máu hồng

• Chỉ định:

Phết tế bào cổ tử cung được chỉ định cho những bệnh nhân sau:

- Khi khám phụ khoa phát hiện thấy những tổn thương ở cổ tử cung.

- Khi có yếu tố nghi ngờ ung thư cổ tử cung như: xuất huyết âm đạo bất thường…

- Đối với những bệnh nhân bị nhiễm HIV là những đối tượng có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung, do đó theo Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo nên tầm soát Pap cho người nhiễm HIV mỗi 6 tháng / lần. Nếu kết quả bình thường sau 2 lần thử liên tiếp, Pap sẽ được kiểm tra mỗi 1 năm / lần

- Những bệnh nhân đã qua phẫu thuật cắt tử cung:

+ Nếu cắt tử cung toàn phần (cắt cả thân và cổ tử cung): sau mổ trong vòng 6 tháng, kiểm tra bằng phết tế bào ở mỏm cắt âm đạo. Sau đó không cần làm Pap nếu lý do trước phẫu thuật không phải là ung thư. Nếu lý do mổ vì ung thư, cần kiểm tra Pap mỗi 6 tháng.

+ Nếu cắt tử cung bán phần (chỉ cắt thân tử cung): vẫn tiếp tục tầm soát Pap theo lịch.

- Kiểm tra định kỳ cho tất cả các phụ nữ đã có quan hệ tình dục. Đây là một xét nghiệm thường quy cần làm cho tất cả phụ nữ đã có quan hệ tình dục. Không giới hạn về tuổi, ngay cả những bệnh nhân mãn kinh cũng cần được tầm soát ung thư bằng Pap.

+ Có một số đề nghị được chấp nhận rộng rãi, như theo đề nghị của Hội Ung thư Hoa Kỳ thì mỗi phụ nữ đã có quan hệ tình dục nên được phết tế bào cổ tử cung mỗi năm một lần. Sau 3 lần liên tiếp với kết quả bình thường thì khoảng thời gian làm lại có thể thưa ra tùy theo đánh giá của bác sĩ. Thời gian này có thể là mỗi 3 năm, cho đến lúc 60 tuổi. Nếu trên tuổi này mà kết quả vẫn bình thường thì có thể loại khỏi chương trình tầm soát.

+ Theo chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung, Pap' smear được làm cho mọi phụ nữ trên 18 tuổi đã có giao hợp.

Nếu kết quả bình thường, làm lại lần thứ hai một năm sau. Nếu hai lần liên tiếp kết quả bình thường thì sau đó mỗi ba năm làm lại Pap' smear một lần cho đến năm 60 tuổi. Nếu trên 60 tuổi mà kết quả Pap' smear vẫn bình thường thì có thể loại khỏi chương trình tầm soát. Đối với những phụ nữ có nguy cơ cao, có thể được thực hiện Pap' smear với nhịp độ gần hơn.

Chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung nên làm như sau:


Thực hiện phết mỏng cổ tử cung lần thứ nhất sau lần giao hợp đầu tiên.

Sau đó, mỗi năm làm một lần đến năm 35 tuổi.

Nếu các kết quả đều tốt thì sau đó mỗi 5 năm làm phết mỏng cổ tử cung một lần cho đến năm 60 tuổi.

Nếu kết quả Pap' smear vẫn bình thường cho đến năm 60 tuổi thì có thể loại phụ nữ này ra khỏi chương trình tầm soát.

Nếu xét nghiệm Pap nghi ngờ nên làm Pap lại.

Nếu kết quả Pap' smear có những bất thường của tế bào biểu mô lát phải làm thêm xét nghiệm soi cổ tử cung và có thể kèm theo sinh thiết cổ tử cung.

Tầm soát ung thư cổ tử cung bằng soi và sinh thiết


1. Soi cổ tử cung:


Soi cổ tử cung bắt buộc thực hiện với các bệnh nhân có Pap' smear bất thường. Một lý do khác để soi cổ tử cung là khi có những tổn thương không ung thư cần điều trị (viêm nhiễm, lộ tuyến ….) hoặc những tổn thương của âm hộ, âm đạo.

Soi cổ tử cung là một phương pháp kiểm tra bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ), âm đạo và cổ tử cung một cách kỹ lưỡng hơn giúp xác định vị trí và mức độ lan tỏa của tổn thương, đồng thời hướng dẫn cho sinh thiết cổ tử cung.

Soi cổ tử cung bằng máy soi có cấu trúc đơn giản là một nguồn ánh sáng lạnh, chiếu sáng vào cổ tử cung và có khả năng phóng đại hình ảnh bên trong gấp 10 – 30 lần, có thể nối với tivi để xem, nối với máy vi tính để lưu hình ảnh và in hình ra để làm bằng chứng cho bệnh nhân thấy hoặc được lưu lại để theo dõi bệnh nhân sau này.

• Quy trình:

Soi cổ tử cung không chuẩn bị rồi kết hợp với việc soi cổ tử cung có bôi cổ tử cung bằng các dung dịch acetic acid 2 – 3% và lugol 10% để có thể nhìn rõ hơn, để định vị tốt hơn những chỗ cần phải phân tích bệnh lý. Việc thăm khám thường chỉ mất khoảng 15 phút.

2. Sinh thiết cổ tử cung:

Sinh thiết cổ tử cung luôn luôn được thực hiện dưới hướng dẫn của máy soi để hạn chế tối đa kết quả âm tính giả do sinh thiết không đúng chỗ. Soi và sinh thiết cổ tử cung là xét nghiệm quan trọng trong việc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung.

Sinh thiết là phương tiện sau cùng và cho kết quả chính xác hơn cả. Đôi khi sinh thiết, ngoài để chẩn đoán còn là một phương pháp điều trị đối với giai đoạn sớm của bệnh, đó là trường hợp khoét chóp cổ tử cung sinh thiết.

• Quy trình:


- 24 giờ trước khi tiến hành thủ thuật soi và sinh thiết cổ tử cung không nên thụt rữa bên trong âm đạo hay giao hợp.

Trước khi làm thủ thuật, bệnh nhân nên đi tiêu tiểu. Bác sĩ có thể cho một ít thuốc giảm đau trước khi soi và sinh thiết cổ tử cung.

- Nếu khi sinh thiết cổ tử cung Bác sĩ chỉ lấy đi một mẩu mô (không phải khoét chóp cổ tử cung) thì không ảnh hưởng đến việc mang thai sau này vì mẩu mô này thường rất nhỏ. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đang mang thai hay nghi ngờ có thai Bác sĩ có thể sẽ thay đổi cách thức tiến hành thủ thuật.

- Thường thủ thuật soi và sinh thiết cổ tử cung mất khoảng 20 đến 30 phút.

- Sau thủ thuật, dịch tiết từ âm đạo có màu hơi sậm. Trong trường hợp có sinh thiết cổ tử cung, Bác sĩ thường sẽ đặt vào chỗ sinh thiết một chất keo dính màu vàng nâu để cầm máu. Khi chất này lẫn với máu, nó làm cho dịch tiết hơi sẫm màu. Dịch có thể rỉ rả trong vài ngày sau đó, đôi khi có rỉ ít máu.

- Bệnh nhân có thể bị xuất huyết nhẹ nếu đã sinh thiết, nhưng thường không có tác dụng phụ nào khác. Tuy nhiên, nếu sau thủ thuật sinh thiết cổ tử cung có biểu hiện các triệu chứng như: xuất huyết nhiều (thấm ướt hơn một băng vệ sinh trong một giờ); đau bụng dưới; sốt, ớn lạnh hay dịch tiết có mùi hôi phải báo ngay cho bác sĩ.

- Không được giao hợp cũng như không được thụt rửa hay đưa bất kỳ thứ gì vào bên trong âm đạo ít nhất là trong vòng một tuần sau khi sinh thiết cổ tử cung.

- Kết quả soi và sinh thiết cổ tử cung thường sẽ có trong vòng 1 đến 2 tuần sau đó. Không được quá 30 ngày, bệnh nhân cần phải tái khám để Bác sĩ cho biết kết quả và những điều cần được theo dõi hoặc điều trị tiếp.