Nhau tiền đạo là gì?Các dấu hiệu nghi ngờ nhau tiền đạo? Trong 3 tháng cuối thai kỳ, đột ngột thai phụ bị ra huyết đỏ tươi, có thể nhiều hoặc ít, đông cục lại, không kèm theo đau bụng. Triệu chứng ra huyết âm đạo có thể lập lại nhiều lần và lần sau

Người gửi:

Ngày gửi: 25/01/2016 - 14:36:11

Câu hỏi: Nhau tiền đạo là gì?

>> Xem trả lời

Trả lời: Các dấu hiệu nghi ngờ nhau tiền đạo?

Trong 3 tháng cuối thai kỳ, đột ngột thai phụ bị ra huyết đỏ tươi, có thể nhiều hoặc ít, đông cục lại, không kèm theo đau bụng.

Triệu chứng ra huyết âm đạo có thể lập lại nhiều lần và lần sau thường ra huyết nhiều hơn lần trước

Nếu thai phụ đi lại nhiều, làm việc nặng, giao hợp…thì dễ bị ra huyết hơn.

Làm thế nào để phát hiện nhau tiền đạo trước sanh?
Hiện nay phương pháp an toàn và được dùng nhiều nhất tại Việt Nam là siêu âm.

Có thể phát hiện sớm từ tuần lễ thứ 20 của thai kỳ nhờ vào siêu âm.

Qua siêu âm, ngoài việc khảo sát hình thái thai nhi, ước tính trọng lượng qua các số đo… bác sĩ có thể xác định vị trí bánh nhau bám vào tử cung: ở đáy, thân, mặt trước, mặt sau, bám thấp, tiền đạo trung tâm hay bán trung tâm.

Tại sao phụ nữ mang thai bị nhau tiền đạo?
Nguyên nhân chính xác vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, người ta thấy thường gặp nhau tiền đạo ở những người:

- Sanh nhiều lần.

- Nạo thai, sẩy thai nhiều lần.

- Viêm nhiễm tử cung trước đó.

- Có nhau tiền đạo lần mang thai trước.

- Tuy nhiên, ở những người có thai lần đầu vẫn có thể bị nhau tiền đạo.

Những ảnh hưởng của nhau tiền đạo trên mẹ và thai là gì?
Ảnh hưởng trên mẹ: Ra huyết âm đạo gây thiếu máu. Nếu ra huyết nhiều có khi gây tử vong.

Ảnh hưởng trên thai:
- Do mẹ bị thiếu máu vì ra huyết nhiều nên thai nhi dễ suy dinh dưỡng, suy thai.

- Khi mẹ bị ra huyết nhiều, để cứu mẹ nên bác sĩ phải mổ lấy thai sớm không kể đến thai đủ tháng hay chưa. Khi đó khả năng thai non tháng rất cao và bé dễ bị suy hô hấp vì non tháng và tử vong.

Vì bánh nhau nằm ở phần dưới tử cung làm cho thai nhi khó xoay đầu xuống nên dễ dẫn đến ngôi bất thường: ngôi mông hay ngôi ngang…

Cần phải làm gì khi đuợc chẩn đoán nhau thai tiền đạo?
Nếu có ra huyết âm đạo: Cần phải vào bệnh viện có khoa sản gần nhất để được điều trị.

Tùy theo mức độ ra huyết và sự trưởng thành của thai nhi mà bác sĩ sẽ quyết định chấm dứt thai kỳ hay dưỡng thai thêm.

Nếu được dưỡng thai thêm: thai phụ cần nằm nghỉ tuyệt đối tại giường, ăn uống bổ dưỡng.

Nếu không ra huyết âm đạo và thai nhi còn non tháng: nghỉ ngơi, hạn chế đi lại, tránh đi chơi xa, không làm việc nặng, kiêng giao hợp.

Không ra huyết âm đạo và thai lớn hơn hoặc bằng 37 tuần: vào bệnh viện có khoa sản.

Có phải mổ lấy thai cho tất cả các trường hợp nhau tiền đạo?

Không phải mổ lấy thai cho tất cả các trường hợp nhau tiền đạo. Chỉ cần mổ lấy thai cho những trường hợp:

- Nhau tiền đạo ra huyết nhiều bất kể tuổi thai.

- Nhau tiền đạo trung tâm và thai đủ trưởng thành (có khả năng sống được khi ra khỏi buồng tử cung).

- Nhau tiền đạo bám trung tâm.

Còn những trường hợp nhau bám thấp hay bám mép có thể sanh ngã âm đạo được nếu không kèm một bất thường nào khác.

Có những trường hợp ở tuần 27 của thai kỳ là nhau tiền đạo trung tâm nhưng đến khi thai đủ trưởng thành nhau lại chỉ bám thấp và vẫn có thể sanh ngã âm đạo được. Do đó, bác sĩ sẽ cho thai phụ siêu âm kiểm tra lại vị trí bánh nhau trước khi quyết định cách sanh.

Làm gì để dự phòng nhau tiền đạo?


- Không nên sanh đẻ nhiều.

- Không nạo phá thai nhiều lần.

Bệnh thủy đậu ảnh hưởng thai như thế nào?

Người gửi:

Ngày gửi: 25/01/2016 - 14:18:08

Câu hỏi: Bệnh thủy đậu ảnh hưởng thai như thế nào?

>> Xem trả lời

Trả lời: Tần suất bệnh thủy đậu trong thai kỳ

Theo nghiên cứu dịch tễ học, tại Anh và Mỹ, tần suất bệnh thủy đậu trên thai kỳ khoảng 3/1000. Tại Mỹ, có ít nhất 3 triệu thai phụ mỗi năm, như vậy có khoảng 9000 trường hợp thai phụ mắc bệnh thủy đậu mỗi năm.

Tại bệnh viện Từ Dũ, hàng năm với hơn 70.000 trường hợp đến khám thai, trong đó có 1 số không nhỏ thai phụ bệnh thủy đậu.

Theo nhiều nghiên cứu khác nhau tần suất mắc bệnh thủy đậu nguyên phát (mắc bệnh lần đầu tiên) trong thai kỳ khoảng 5/10.000 – 7/10000, bởi vì hầu hết các thai phụ đã từng mắc bệnh khi còn nhỏ hoặc đã được chủng ngừa trước đó.
 
Bệnh thủy đậu ảnh hưởng trên thai kỳ như thế nào?
Phụ nữ đã từng nhiễm bệnh thủy đậu trước khi mang thai hoặc đã được chủng ngừa bệnh thủy đậu thì được miễn dịch với bệnh này, trong cơ thể đã có kháng thể chống lại bệnh. Do đó, khi mang thai, những thai phụ đã có kháng thể chống lại bệnh thủy đậu không cần phải lo lắng về biến chứng của bệnh đối với bản thân họ cũng như thai nhi.

Thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu có nguy cơ viêm phổi do virus varicella 10 – 20%, trong số người viêm phổi do virus này nguy cơ tử vong lên đến 40%.
Tỉ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu cao nhất trong số những người lớn nhiễm bệnh này.

Đối với những thai phụ bệnh thủy đậu nguyên phát khi mang thai, sự ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai:
- Trong 3 tháng đầu, đặc biệt tuần lễ thứ 8 đến 12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị Hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0.4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần.

- Trong 3 tháng giữa, đặc biệt tuần 13 – 20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%. Sau tuần lễ thứ 20 thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng trên thai.

- Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng 5 ngày trước sinh và 2 ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỉ lệ tử vong bé sơ sinh lúc này lên đến 25 - 30% số trường hợp bị nhiễm.
Cách xử trí khi thai phụ bệnh thủy đậu.
Thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm.

Vì thai phụ có nguy cơ cao do biến chứng của bệnh thủy đậu: nên dùng varicella – zoster immune globulin (VZIG) đối với những thai phụ có phơi nhiễm với bệnh mà những thai phụ này chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chủng ngừa .

Việc dùng VZIG không phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh cũng như bệnh thủy đậu sơ sinh

Như vậy, việc dùng VZIG cho thai phụ chỉ phòng ngừa biến chứng nặng ở mẹ chứ không giúp ích cho thai nhi hoặc trẻ sơ sinh.

Để dự phòng biến chứng cho trẻ, nên dùng VZIG cho bé sơ sinh.

Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi nên được tư vấn dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovircó vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

Cách dự phòng

- Nên chủng ngừa bệnh thủy đậu khi còn bé hoặc ít nhất 3 tháng trước khi mang thai.
- Khi mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh thủy đậu.
- Giữ vệ sinh môi trường và vệ sinh thân thể.

Thai ngoài tử cung là gì? Làm sao để nhận biết sớm ?

Người gửi:

Ngày gửi: 25/01/2016 - 14:14:25

Câu hỏi: Thai ngoài tử cung là gì? Làm sao để nhận biết sớm?

>> Xem trả lời

Trả lời:

Những dấu hiệu nhận biết

Trễ  kinh

Đây là biểu hiện thông thường của việc  dầu tiên bạn nghĩ đến là mình đã mang thai
Đau bụng
Đau một bên bụng dưới bị cương đau âm ỉ.  mức trung bình đến dữ dội – có thể lan sang đau toàn bộ vùng bụng.
- Ra huyết âm đạo
- Buồn nôn và nôn.
- Chóng mặt, mệt mỏi và thậm chí là  chóng mặt ,ngất xỉu.

 

Việc chẩn đoán thai ngoài tử cung không khó, chỉ cần đi khám thai đúng theo lịch hẹn của bác sỹ. Khi mang thai thấy đau bụng hoặc ra máu bất thường cần đi khám bác sỹ ngay.

 

Điêu trị

Sau khi chẩn đoán lâm sàng , xét nghiệm máu, siêu âm và một số kiểm tra khác, bác sĩ sẽ phát hiện được thai ngoài tử cung. Khi ấy:

-Tuỳ vào tình trạng khối thai và , vị trí bám của khối thai mà có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ người mẹ và có thể được điều trị theo những biện pháp khác nhau.

 

- Bệnh nhân có thể được dùng thuốc: nếu tuổi thai còn nhỏ và các ống dẫn trứng trong điều kiện tốt, thuốc methotrexate có thể được chỉ định để ngăn chặn sự phát triển của phôi thai.

-Bên cạnh phương pháp phẫu thuật bụng hở như bình thường thì phẫu thuật nội soi là một phương pháp mang lại tỷ lệ sinh sản tốt sau khi điều trị. Trong một số trường hợp nội soi vì thai ngoài tử cung nhưng phải chuyển sang phẫu thuật bụng hở vì các lý do khác: thai ở kẽ tử cung, dính nhiều, huyết tụ thành nang…

 

Phòng ngừa

Muốn ngăn chặn tình trạng thai ngoài tử cung, phải khám phụ khoa đinh kỳ để phát hiện và điều trị kịp thời nếu có viêm phần phụ; cần chú ý giữ gìn vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt, sau khi đẻ, trong thời kỳ cho con bú, tránh nạo phá thai, chống viêm nhiễm sau khi sanh và sau khi sảy thai.

Khả năng có thai lại
Khi đã mang thai ngoài tử cung, nguy cơ tái phát thai ngoài tử cung là khoảng 1/10 đến 1/100. Tuy nhiên, tùy thuộc vào kết quả sau phẫu thuật  thai ngoài tử cung và các vấn đề tiềm ẩn đến khả năng sinh sản của bạn, bởi vì nhiều phụ nữ vẫn có thể mang thai lại bình thường sau đó.

 

Khi đã được mổ thai ngoài tử cung và muốn có thai trở lại, cần phải đợi ít nhất là một năm để các chức năng sinh sản ổn định trở lại.

Bệnh Rubella - Nguy hiểm cho phụ nữ mang thai như thế nào?

Người gửi:

Ngày gửi: 25/01/2016 - 14:14:58

Câu hỏi: Bệnh Rubella - Nguy hiểm cho phụ nữ mang thai như thế nào?

>> Xem trả lời

Trả lời:

Những biểu hiện của bệnh

Sau khi virut vào cơ thể độ 2-3 tuần lễ, bệnh nhân hoàn toàn bình thường. Tiếp theo có 3 triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch.

Sốt: Đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC.

Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.

Phát ban: Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết. Cần phân biệt với ban của sởi. Ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vảy như phấn rôm, trên da có các vằn màu sẫm.

Đau khớp: hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, sau đó không để lại di chứng.

Các thể lâm sàng

Rubella bẩm sinh: Virut từ máu mẹ qua nhau thai. Trẻ sơ sinh khi đẻ ra đã có ban, hoặc trong vòng 48 giờ sau sinh. Bệnh nhi có gan to, lách to, vàng da.

Thể xuất huyết do giảm tiểu cầu: Chiếm tỷ lệ 1/3.000 ca. Xuất hiện xuất huyết vào 1-2 tuần sau khi phát ban. Có thể chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, trẻ sơ sinh có thể chảy máu rốn.

 

Thường người mẹ không có triệu chứng, điều đáng quan tâm nhất là những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ.

Trong 3 tháng đầu: 70%-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não.

Sau 3 tháng: Nếu mẹ có thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Các biến chứng dị tật của thai nhi: Khi bà mẹ mang thai 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì dễ bị sảy thai hoặc thai chết lưu trong tử cung, nếu đẻ được thì thai thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như đục nhân mắt (một hoặc hai bên), đục giác mạc, tim tiên thiên lỗ thông vách tim, còn ống động mạch, hẹp eo động mạch phổi, trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ.

Điều trị: Cần điều trị triệu chứng như giảm đau, hạ nhiệt. Giữ ấm, tránh gió, kiêng nước trong thời gian phát ban, đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng. Tăng cường ăn hoa quả như cam, chanh và các vitamin.

Phòng bệnh: Hai biện pháp chính của phòng bệnh là cách ly và tiêm phòng bằng vaccin, nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ. Hãy thử máu để biết chắc là cơ thể đã miễn dịch đối với virút rubella trước khi mang thai hay chưa. Nếu không, hãy tiêm phòng trước khi mang thai

khi tiêm phòng, phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi chủng và 2 tháng sau khi chủng.

 

Sau nhiễm rubella, khi nào nên có thai?

 

Rubella được chẩn đoán bằng huyết thanh học. Kháng thể IgG và IgM xuất hiện 2-4 ngày sau khi xuất hiện ban, đạt nồng độ tối đa sau đó hai tuần. IgM giảm dần về âm tính trong vòng 1-2 tháng nhưng tồn tại kéo dài ở một số bệnh nhân 3-5%. Sự chuyển trạng thái IgG từ âm sang dương là bằng chứng chắc chắn của nhiễm rubella.

IgM rubella dương tính được dùng thường qui trong chẩn đoán nhiễm rubella cấp tính, nhưng có thể là IgM của virus khác như parvovirut B19. Tính đặc hiệu đối với rubella của IgM cần xác định lại tại phòng xét nghiệm chuyên khoa sâu để tránh chẩn đoán dương tính giả.

 

Như vậy, khi có kết quả IgM âm tính hẳn  khoảng 1-2 tháng  mói để có thai. Bởi vì, tuy khả năng lây cho thai  thấp nhưng để tầm soát xem thai có bị ảnh hưởng hay không rất khó, siêu âm và các kỹ thuật chẩn đoán tiền sản hiện nay cũng khó xác định được các dị dạng tim, các tổn thương mắt, và nhất là điếc thì không thể xác định. Kỹ thuật chọc máu cuống rốn cũng khó thực hiện và có nhiều tai biến.

Dính buồng tử cung và viêm phần phụDựa theo những điều bạn kể thì hiện nay về phụ khoa, bạn có những biểu hiện của 2 chứng bệnh sau: dính buồng tử cung bán phần và viêm phần phụ mạn tính. Để khắc phục tình trạng này, bạn cần sử dụng kháng sinh theo

Người gửi:

Ngày gửi: 25/01/2016 - 14:34:35

Câu hỏi: Dính buồng tử cung và viêm phần phụ?

>> Xem trả lời

Trả lời:

Dựa theo những điều bạn kể thì hiện nay về phụ khoa, bạn có những biểu hiện của 2 chứng bệnh sau: dính buồng tử cung bán phần và viêm phần phụ mạn tính.

Để khắc phục tình trạng này, bạn cần sử dụng kháng sinh theo lời khuyên của thầy thuốc và giữ gìn vệ sinh bộ phận sinh dục, đồng thời tránh làm việc nặng nhọc. Bạn nên đi khám bệnh và theo dõi điều trị cụ thể tại một cơ sở phụ khoa, không nên tự ý điều trị vì điều này gây hại nhiều hơn lợi. Ví dụ: Việc tùy tiện dùng quá nhiều kháng sinh có thể gây nhờn thuốc, rất nguy hiểm. Đó là chưa kể tình trạng dị ứng thuốc và loạn khuẩn có thể xảy ra.

GS Nguyễn Khắc LiêuSức Khỏe & Đời Sống

12
Gửi câu hỏi của bạn
Loading...
Support 2 Support 3

Hotline

0972 868 485